Việc thành lập doanh nghiệp là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều được quyền đứng tên thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp. Trên thực tế, nhiều người đang trong thời gian chấp hành án treo băn khoăn liệu mình có được thành lập doanh nghiệp hay không. Dưới góc nhìn của luật sư giỏi hình sự, đây là vấn đề cần được phân tích không chỉ theo Luật Doanh nghiệp mà còn liên quan chặt chẽ đến quy định của Bộ luật Hình sự. Qua bài viết dưới đây, Công ty Luật Duật Vân sẽ phân tích để Quý độc giả nắm rõ vấn đề này dựa trên các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các trường hợp bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định pháp luật
Trong thực tiễn tư vấn, nhiều luật sư hình sự giỏi cho rằng việc hiểu sai bản chất của án treo có thể dẫn đến những quyết định pháp lý không chính xác, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh. Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022, 2025), những trường hợp sau đây không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức, trừ trường hợp thực hiện theo quy định về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử đi làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng;
- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Quy định về Án treo
Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Bên cạnh đó, Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao cũng xác định:
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.
Điều này cũng được các luật sư giỏi hình sự phân tích rằng án treo không phải là hình phạt tù thực tế, mà là một cơ chế miễn chấp hành có điều kiện.
Như vậy, theo phân tích của các luật sư giỏi hình sự, người đang chấp hành án treo được hiểu là miễn chấp hành hình phạt tù và không thuộc trường hợp bị pháp luật cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020. Vì vậy, cá nhân này vẫn có quyền thành lập công ty theo quy định pháp luật hiện hành.

Trường hợp đặc biệt cần lưu ý theo tư vấn của luật sư hình sự
Mặc dù pháp luật không cấm người hưởng án treo thành lập doanh nghiệp nhưng trên thực tế cần xem xét nội dung cụ thể trong bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Nếu trong bản án có áp dụng hình phạt bổ sung như:
- Cấm đảm nhiệm chức vụ;
- Cấm hành nghề;
- Cấm làm công việc nhất định;
thì trong thời gian bị cấm, cá nhân đó sẽ không được quyền đứng tên thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp.
Kết luận
Từ các quy định nêu trên, người đang chấp hành án treo vẫn được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp nếu không thuộc trường hợp bị Tòa án áp dụng hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, cấm làm công việc nhất định. Trong trường hợp khách hàng còn thắc mắc, vướng vào các vấn đề, tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp, việc tìm đến Luật sư giỏi hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là giải pháp cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp một cách tối ưu.
LIÊN HỆ
Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu tìm kiếm Luật sư giỏi hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, đừng ngại liên hệ với đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty Luật Duật Vân để được hỗ trợ nhanh chóng, kịp thời theo thông tin liên hệ sau:
CÔNG TY LUẬT TNHH DUẬT VÂN
- Địa chỉ: 102 Đường số 17, Khu phố 5, phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh
- Số điện thoại: 0909 45 54 54
- Website: Công ty Luật Duật Vân
- Email: duatvanlawfirm.co@gmail.com
- Fanpage: Công ty Luật Duật Vân

