TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ

Toà án cấp sơ thẩm (Toà án nhân dân khu vực) xét xử sơ thẩm (đã tuyên án) bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản”. Toà án cấp phúc thẩm (Toà án nhân dân cấp tỉnh) xét xử phúc thẩm tuyên huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp khu vực và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thống nhất đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can vì không phạm tội. Cơ quan điều tra ban hành Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định đình chỉ điều tra bị can. Viện kiểm sát nhân dân khu vực đồng ý với quyết định đình chỉ và có văn bản trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thẩm định đình chỉ đồng ý với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân khu vực.

Toà án nhân dân cấp tỉnh không đồng ý với Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định đình chỉ điều tra bị can nên đã có Văn bản kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao huỷ bỏ Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can.

Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật.

Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật.

Vấn đề pháp lý cần giải quyết

  1. Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền để kiến nghị nội dung này đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao hay không?
  2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có phải trả lời văn bản kiến nghị của Toà án nhân dân cấp tỉnh hay không? Căn cứ quy định pháp luật nào phải trả lời, căn cứ nào không phải trả lời?

Trả lời

1. Trước tiên cần xác định kiến nghị của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có phải là kiến nghị khởi tố hay không để có cơ sở áp dụng pháp luật phù hợp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.”

  • Xét về nội dung của kiến nghị khởi tố: theo định nghĩa nêu trên, kiến nghị khởi tố được ban hành để xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm và kết quả giải quyết của kiến nghị khởi tố là cơ quan có thẩm quyền phải ban hành một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trong tình huống pháp lý nêu trên, nếu kiến nghị này được tiếp nhận và giải quyết thì không thể được giải quyết bằng một trong các quyết định nêu trên mà lại chỉ có thể giải quyết bằng Quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra bị can. Như vậy, nếu xét về nội dung, kiến nghị của Toà án nhân dân cấp tỉnh trong tình huống pháp lý nêu trên không phải là kiến nghị khởi tố.
  • Xét về cơ quan có thẩm quyền kiến nghị khởi tố: Khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 1 Điều 150 Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2024) quy định: Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”. Như vậy, thẩm quyền kiến nghị khởi tố ở cấp phúc thẩm là của Hội đồng xét xử, không phải của Toà án nhân dân cấp tỉnh hay Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh. Trong tình huống pháp lý nêu trên, bản án phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại, hồ sơ được trả về cho Cơ quan điều tra và viện kiểm sát có thẩm quyền thực hiện việc điều tra theo quy định pháp luật. Như vậy, lúc này vụ án không còn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp tỉnh, đồng thời không còn Hội đồng xét xử có thẩm quyền để thực hiện quyền kiến nghị khởi tố. Toà án nhân dân cấp tỉnh không phải là cơ quan có thẩm quyền kiến nghị khởi tố.
  • Xét về cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kiến nghị khởi tố: khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:
  • Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
  • 3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
  • a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
  • b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
  • c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.”
  • Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng không phải là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận kiến nghị khởi tố trong tình huống pháp lý nêu trên.
  • Từ 3 khía cạnh nêu trên có thể kết luận kiến nghị của Toà án nhân dân cấp tỉnh nêu trên không phải là Kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật.

Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật.

2. Vậy kiến nghị của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong tình huống pháp lý nêu trên là loại kiến nghị nào và sẽ được giải quyết theo thủ tục nào?

Theo quy định tại Điều 24, Điều 55, Điều 80 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2024, Toà án nhân dân cấp phúc thẩm hoặc Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh cũng không có nhiệm vụ, quyền hạn kiến nghị trong trường hợp nêu trên.

Kiến nghị của Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể xem là kiến nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Điều 33. Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự

2. Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Nếu phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, thẩm quyền huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc về Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra (khi được phân công tiến hành khởi tố, điều tra vụ án hình sự).

Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát có thẩm quyền huỷ bỏ quyết định của Thủ trưởng cơ quan điều tra.

Điểm d khoản 1 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Viện trưởng Viện kiểm sát có nhiệm vụ quyền hạn Quyết định rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.

Trong tình huống pháp lý nêu trên, nếu Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định đình chỉ điều tra bị can do Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ký ban hành thì Toà án nhân dân cấp tỉnh phải gửi kiến nghị cho Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh. Nếu Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định đình chỉ điều tra bị can do Thủ trưởng cơ quan điều tra ký ban hành thì Toà án nhân dân cấp tỉnh phải gửi kiến nghị cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực để giải quyết theo thẩm quyền.

Đồng thời, việc kiểm sát, kiểm tra án đình chỉ cần được thực hiện theo Hướng dẫn 19/HD-VKSTC ngày 08/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn công tác quản lý, kiểm tra và báo cáo đánh giá việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, bị can do không phạm tội và đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự cụ thể:

Viện kiểm sát nhân dân cấp khu vực phải gửi báo cáo, tài liệu đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp tỉnh phải thực hiện biện pháp kiểm tra và có Kết luận kiểm tra, đánh giá đình chỉ. Viện kiểm sát cấp tỉnh phải gửi báo cáo đến Vụ 3 để theo dõi, tổng hợp.

Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật.

Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật sư. Luật.

LIÊN HỆ

Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu tìm kiếm Luật sư tranh tụng giỏi hoặc Luật sư tố tụng giỏi tại Thành phố Hồ Chí Minh, đừng ngại liên hệ với đội ngũ Luật sư của Công ty Luật Duật Vân để được hỗ trợ nhanh chóng, kịp thời theo thông tin liên hệ sau:

CÔNG TY LUẬT TNHH DUẬT VÂN